Thieunhipedia!

 

What Is Fasting and Why

Page history last edited by cracker099 3 yrs ago

CHAY TỊNH

(FASTING)

 

I. LỜI MỜI GỌI SÁM HỐI (A CALL TO REPENTANCE)

• Chúa kêu gọi mọi người trở lại cùng Thiên Chúa, ăn năn sám hối không phải bằng hình thức bên ngoài nhưng là sự trở lại của tâm hồn, sự sám hối của nội tâm. (God calls everyone to return to Him, to do repentance not with external forms but with the heart return to God, the repentance of the heart.)

• 3 hình thức sám hối nội tâm: Chay tịnh (bản thân) - Cầu nguyện (Thiên Chúa) - Bố thí (tha nhân). (Three forms of repentance of the heart are: Fasting (self) - Prayer (God) - Good work (neighbor))

 

II. ĐỊNH NGHĨA CHAY TỊNH VÀ KIÊNG BỚT (THE DEFINITION OF FASTING & ABSTINENCE)

• Chay tịnh là kềm chế không ăn gì trong một thời gian định sẵn, thí dụ như chỉ ăn 1 bữa no. (Fasting is refraining from eating for a time; for example: only one full meal)

• Kiêng bớt là kềm chế không dùng một vài loại đồ ăn hay đồ uống, thí dụ như kiêng thịt. (Abstinence is refraining from using a certain kind of food or drink; for example: abstinence from eating meat)

 

III. LUẬT HỘI THÁNH (THE CHURCH'S PRECEPTS)

A. Ngày buộc phải giữ luật chay tịnh và kiêng thịt (Days obliged to keep the law of fasting and abstinence from meat)

- Kiêng thịt các ngày thứ sáu trong mùa chay. (Abstinence from eating meat every Friday during lent season)

- Chay tịnh và kiêng thịt thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh (Fasting and abstinence from eating meat during Ash Wednesday & Good Friday)

Trong các ngày này, nên tham gia tĩnh tâm, phụng vụ sám hối, hành hương, bớt ăn tiêu, ăn chay, cầu nguyện, bố thí, chia sẻ. (In these days, one should participate in retreat, liturgy of repentance, reduce spending, fast, pray, do good works, share)

B. Người buộc phải giữ luật chay tịnh và kiêng thịt (Persons obliged to keep the law of fasting and abstinence)

- Luật buộc người từ 14 đến 59 tuổi phải kiêng thịt (The law requires person from 14 to 59 to refrain from eating meat.)

- Luật buộc người từ 18 đến 59 tuổi phải giữ chay tịnh (The law requires person from 18 to 59 to do fasting.)

- Luật không buộc những người chưa đến tuổi hoặc quá tuổi, người đau yếu, người làm việc cực nhọc. (The law does not require persons under age, weak or sick persons, person doing hard labor.)

 

IV. CHAY TỊNH CÁCH TỐT LÀNH VÀ CÓ CÔNG ÍCH (FASTING GOOD & MERITORIOUS)

• Không phải chỉ chay tịnh bề ngoài nhưng cả về mặt nội tâm. (Not only to fast exteriorly but also interiorly)

• Không phải chỉ chay tịnh về mặt thể xác nhưng cả về mặt tình thần (Not the fast of the body but also of the spirit)

 

V. NHÂN ĐỨC CHAY TỊNH (THE VIRTUE OF FASTING)

• Tự nó, việc chay tịnh hay kiêng bớt không phải là nhân đức vì mọi người đều giữ, cả những kẻ ngoại đạo cũng làm như vậy. (By itself, fasting or abstinence is not a virtue because everyone observes it, including pagans.)

• Việc chay tịnh hay kiêng bớt là nhân đức nếu những điều kiện đi kèm làm vừa lòng Chúa. Nó ích cho một số người nhưng không cho những người khác. Vì mọi người giữ chay không giống nhau. (It is a virtue if it is accompanied by conditions, which render it pleasing to God. It profits some not others because it is not undertaken by all in the same manner.)

 

VI. BA ĐIỀU KIỆN CHAY TỊNH CÁCH TỐT LÀNH (THREE CONDITIONS FOR FASTING WELL)

A. Toàn Thể & Toàn Diện (Entire & Universal)

- Chay tịnh với tất cả tấm lòng: cách tự nguyện, với tất cả tấm lòng, cách toàn diện, toàn thể. (Fast with whole heart: willingly, whole-heartily, universally, entirely.)

- Chay tịnh phải tổng quát và toàn thể: Tất cả mọi chi thể phải chay tịnh vì các giác quan khác cũng phạm tội. (Fasting must be general & entire. All members of the body must fast because other senses also have sinned.)

- Miệng: Kiêng ăn. Chay tịnh là một cứu cánh cho cái miệng, sự tham ăn, tham uống. (Thánh Bernađô): vì tội lỗi nhập vào thế gian qua cái miệng. (Mouth: refrain from eating. Fasting as a remedy for mouth, gourmandizing, gluttony (St. Bernard): because sin enter the world through the mouth.)

- Mắt: Giữ con mắt khép lại và tránh chúng nhìn những vật phù phiếm và bất chính. (Eyes: Keeping them lowered & not permitting them to look upon frivolous & unlawful objects.)

- Tai: Ngăn chúng lắng nghe những lời nói vô ích làm đầy tâm trí với những hình ảnh trần tục. (Ears: Depriving them of listening to vain talk which fills the mind with worldly images.)

- Lưỡi: Giữ khỏi nói những lời vô ích và những lời ảnh hưởng đến thế giới bằng những sự vật trần thế. (Tongue: Refrain from speaking idle words & those which savor of the world on things of the world.)

- Không phải chỉ có giác quan xác thịt chay tịnh mà cả những năng lực phần hồn (trí khôn, trí nhớ và ý chí) và những tình cảm bằng cách bớt những ý nghĩ vô ích, những ký ức vô bổ, thèm muốn dư thừa và những ước muốn của ý chí. (Not only bodily senses fast but also soul's power (understanding, memory, and will) & passions by reducing useless thoughts, vain memories, superfluous appetite & desires of the will.)

- Trí khôn: chỉ về những việc thánh thiện và đạo đức (Understanding: Only on holy & pious subjects)

- Ý chí: Giữ trong vòng kềm toả (Will: Keep it in check)

- Tinh thần: giữ nơi chân thánh giá với những ý nghĩ thánh thiện và ăn năn (Spirit: Keep it at the foot of the crucifix with holy & sorrowful thoughts)

- Trong mùa chay, Giáo Hội loại bỏ tất cả mọi điệu nhạc du dương (không có alleluia) để hành tội thính giác, dùng những màu sắc u tối. (During lent season, the Church omits all harmonious chants (no alleluia) in order to mortify the hearing, uses somber and dark colors.)

- Tro: Hình ảnh của sự ăn năn sám hối, cát bụi trở về cát bụi (Ash: the sign of penitence, dust to dust)

- Chúng ta nên suy tưởng đến những điều đắng cay sầu não và tránh ý nghĩ mừng vui ân phúc. (We should reflect on bitter & sorrowful things and avoid joyous & gracious thought.)

- Những tín hữu tiên khởi rút vào nơi vắng vẻ để hãm miệng lưỡi, và thính giác - không nói và nghe những việc vô ích hay vô dụng. (Early Christians withdrew into solitude to mortify tongue, hearing - no speaking or hearing vain or useless things.)

- Các đấng giáo phụ và những tín hữu ngày xưa kiêng ăn chẳng những thịt mà cả trứng, cá, sữa. Họ chỉ ăn rau thuốc và củ rễ (Ancient Fathers & Christians abstained from eating not only meat but also eggs, fish, milk. They only ate herbs and roots.)

B. Đừng chay tịnh phù phiếm nhưng luôn qua sự khiêm nhường (Never fast through vanity but always through humility)

- Chay tịnh qua khi m nhường và chân lý (Fast through humility & truth)

- Chay tịnh với lòng khiêm nhường là không bao giờ chay tịnh cách phù phiếm. (Fasting through humility is never to fast through vanity.)

- Hàng trăm đường lối chay tịnh cách phù phiếm: (Hundred of ways to fast through vanity:)

- Chay tịnh cách phù phiếm là chay tịnh theo ý riêng: chay theo như mình muốn và không như người khác muốn, làm hài lòng ta và không như ta đã được lệnh hay chỉ bảo. Như vậy, mình cố gắng chay tịnh với đức vâng lời hơn là với ý riêng. (Fast through vanity is to fast through self-will: Fast as one wishes and not as others wish, please us and not as we are ordered or counseled. Thus, one tries to fast with obedience rather than through self-will.)

- Chay tịnh phù phiếm là chay tịnh hơn sự cần thiết: Thân thê yếu đuối nhưng chay tịnh mặc kệ lệnh truyền, nguy hiểm đến sức khoẻ. Tốt hơn là nên ăn thức ăn nhưng làm cho những giác quan khác chay tịnh. Như vậy sẽ làm đẹp lòng Chúa hơn. (Fast through vanity is fasting more than necessary: Weak body but still fast despite order, dangerous to health. It is better to eat food but make other senses fast. Thus it is more pleasing to God.)

- Chay tịnh phù phiếm là chay tịnh ít hơn sự can thiết (Fast through vanity is fasting less than necessary)

- Chay tịnh phù phiếm là chay tịnh như mình muốn, không như mình phải: Chay tịnh ngày thứ Bẩy để tôn kính Đức Maria nhưng không trong mùa chay. (Fast through vanity is fasting as one wants, not as one ought: Fast on Saturdays to honor Mary but not in lent season)

- Chay tịnh phù phiếm là chay tịnh như những người giả hình: dáng sầu não. (Fast through vanity is fasting like hypocrites: looked sad.)

- Chay tịnh phù phiếm là chay tịnh vì sự kính trọng của người. Hãy làm như mọi người, không phải để làm ta trọng hơn gnười khác. Đừng có dáng thánh thiện hơn, nhân đức hơn người khác. (Fast through vanity is fasting for esteem of men. Do as other do, not to esteem yourself above other. Do not appear more holy, more virtuous than other.)

C. Hướng về Chúa và làm mọi việc đẹp long Ngài (Look to God and do everything to please Him)

- Để đẹp long Chúa, chay tịnh với long bác ái. (To please God, fast with charity.)

- Không có khiêm nhường, không có long bác ái. Không có long bác ái, không có khiêm nhường. Hai nhân đức này có sự gần gũi với nhau đến nỗi nhân đức này không thể thiếu vắng nhân đức kia. (No humility, no charity. No charity, no humility. These two virtues have such an affinity with one another that the one can never be without the other.)

- Không có long bác ái, mọi việc làm đều phù phiếm và không làm đẹp lòng Chúa. Không có long khiêm nhường, chay tịnh đều phù phiếm và không có giá trị. (Without charity, everything done in vain and not pleasing to God. Without humility, fasting done in vain, without value.)

- Hướng về nội tâm. Làm việc không phải cho con mắt người đời. Chỉ làm để đẹp lòng Chúa, danh dự và vinh quang muôn đời và mãi mãi cho Ngài. (Withdrawing within ourselves. Do thing not to the eyes of men. Do only to please God to Whom be honor and glory forever and ever.)

 

VII. TẠI SAO PHẢI CHAY TỊNH (WHY FAST)

Đền tội (Expiation for the sin)

- Tội lỗi đến từ sự tính toán với giới răn. Tội lỗi đến từ sự xấu bắt những luật truyền của Chúa và các vị bề trên theo sự suy đoán phàm trần của chính ta: lý luận về sự việc truyền dạy. (Sin comes from deliberation on commandment. Sin comes from evil of subjecting the commands of God and our superiors to our own human discretion (reason about things commanded)

- Adong và Evà đã ăn trái cấm (Adam & Eve ate forbidden fruit)

- Môn đệ bỏ Chúa Giêsu thắc mắc làm sao có thể ăn thịt và uống máu Ngài. (Disciple left Jesus questioning on eating His Flesh and drink His Blood)

 

VIII. 4 HOA TRÁI THIÊNG LIÊNG CỦA VIỆC CHAY TỊNH? (4 MAIN SPIRITUAL FRUITS OF FASTING)

1. Củng cố tinh thần, kiểm soát xác thịt và cảm giác của xác thịt. (Fortifies the spirit , mortifies the flesh & its sensuality)

2. Nâng tâm hồn lên tới Chúa (Raises the spirit to God)

3. Chiến đấu đam mê & tăng sức để chiến thắng và tiêu diệt dục vọng (Fights concupiscence & gives power to conquer & deaden its passion)

4. Giải thoát trí óc khỏi vướng mắc nhu cầu trần thế để có thể suy gẫm việc thiêng liêng, tìm cách làm đẹp lòng Chúa với một tâm hồn trong trắng. (Free the mind from all worldly matter and disposes the heart to meditate on spiritual things, to seek to please only God with great purity of heart)

Comments (0)

You don't have permission to comment on this page.